Bệnh dại – gánh nặng bệnh tật và biện pháp phòng tránh

1. Giới thiệu:

Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus dại (Rabies virus) thuộc họ Rhabdoviridae, chi Lyssavirus gây ra, lây truyền chủ yếu từ động vật mắc bệnh dại sang người từ nước bọt qua vết cắn, cào, liếm lên da trầy xước hoặc tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc mắt, miệng, vết thương hở [1]. Đây là bệnh có tỷ lệ tử vong gần như 100% khi vi rút lây nhiễm vào hệ thần kinh trung ương và xuất hiện triệu chứng lâm sàng, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng vắc xin và huyết thanh kháng dại.

2. Gánh nặng bệnh tật:

2.1. Trên thế giới

– Bệnh dại là một trong những bệnh truyền từ động vật sang người có tác động kinh tế và xã hội nghiêm trọng. Gánh nặng bệnh dại tác động đến ngân sách của ngành y tế công cộng, cộng đồng địa phương và nền kinh tế chăn nuôi, nguy cơ mắc bệnh dại cao ở các khu vực nghèo nhất thế giới. Một nghiên cứu toàn cầu cho thấy bệnh dại gây thiệt hại kinh tế hàng năm ước tính khoảng 8,6 tỷ USD. Thành phần lớn nhất của gánh nặng kinh tế là do tử vong sớm (55%), tiếp theo là chi phí trực tiếp cho việc dự phòng sau phơi nhiễm (PEP 20%), mất thu nhập trong khi tìm kiếm PEP (15,5%), chi phí giới hạn cho ngành thú y do tiêm phòng cho chó (1,5%), chi phí bổ sung cho cộng đồng do mất gia súc (6%) [3].

Theo báo cáo của WHO năm 2022 về chiến lược toàn cầu chấm dứt tử vong do bệnh dại vào năm 2030, khoảng 3,3 tỷ người trên thế giới đang sống trong khu vực có nguy cơ mắc bệnh dại, đặc biệt là trẻ em dưới 15 tuổi. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 59.000 người tử vong do bệnh dại, trong đó hơn 95% xảy ra ở châu Á và châu Phi, đa số các trường hợp liên quan đến chó chưa được tiêm phòng [2].

– Tại khu vực châu Á, chi phí hàng năm do bệnh dại ước tính lên tới hơn 563 triệu đô la Mỹ ở châu Á . Mỗi năm có 21.000–24.000 người tử vong tại khu vực Đông Nam Á do bệnh dại, chiếm khoảng 45% tổng số ca tử vong do bệnh dại trên toàn thế giới [4].

2.2. Tại Việt Nam

Theo Cục Y tế Dự phòng Bộ Y tế, giai đoạn 2010-2023, mỗi năm nước ta ghi nhận 60-100 ca tử vong do bệnh dại, chủ yếu tại các vùng nông thôn, miền núi và nơi có tỷ lệ tiêm phòng chó thấp [5]. Năm 2023, Việt Nam ghi nhận 76 ca tử vong do bệnh dại, tăng 21% so với năm 2022 [6]. Năm 2024 có 89 trường hợp tử vong do bệnh dại trên toàn quốc (tăng 7 trường hợp so với 2023, tăng 17 trường hợp so với năm 2022), 9 tháng đầu năm 2025, cả nước đã có 58 trường hợp tử vong tại 18 tỉnh, thành phố, thấp hơn cùng kỳ năm 2024.

Nguyên nhân chính bao gồm: không tiêm phòng sau phơi nhiễm vì chủ quan cho rằng chó nhà cắn, tại thời điểm cắn chó bình thường nên không đi tiêm phòng (chiếm 63%), không hiểu biết về bệnh dại, không đến cơ sở y tế, dùng thuốc nam/đông y, trẻ nhỏ không nói được với bố mẹ, giết mổ chó, vật nuôi không được tiêm vắc xin định kỳ và thiếu nhận thức về bệnh trong cộng đồng [8].

3. Biện pháp phòng tránh bệnh dại

3.1. Phòng bệnh ở động vật

– Tiêm phòng dại định kỳ cho chó, mèo: WHO và OIE khuyến nghị tỷ lệ tiêm phòng đạt ít nhất 70% quần thể chó để ngăn chặn lưu hành virus [7].

– Quản lý vật nuôi chặt chẽ: Không thả rông, gắn biển hoặc chip định danh, kiểm soát việc buôn bán, vận chuyển chó mèo qua biên giới.

– Giám sát và xử lý ổ dịch động vật: Khi phát hiện chó nghi dại, cần báo ngay cơ quan thú y, cách ly và xử lý theo quy định của Bộ Nông nghiệp.

3.2. Phòng bệnh ở người

– Tiêm vắc xin phòng dại trước phơi nhiễm (PrEP): Áp dụng cho người có nguy cơ cao như bác sĩ thú y, nhân viên phòng thí nghiệm, người làm nghề giết mổ, thu gom động vật [1].

– Xử trí vết thương sau phơi nhiễm: Ngay sau khi bị chó, mèo cắn hoặc liếm lên vết thương hở, cần rửa kỹ bằng xà phòng và nước sạch ít nhất 15 phút, sau đó sát trùng bằng cồn 70° hoặc dung dịch povidone-iodine [6].

– Tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại sau phơi nhiễm (PEP) càng sớm càng tốt, theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam [6].

– Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe: Đưa kiến thức về bệnh dại vào trường học, truyền thông cộng đồng, đặc biệt tại khu vực nông thôn và miền núi.

4. Kết luận

– Bệnh dại là bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh lây từ động vật sang người, song hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Việc thực hiện hiệu quả chương trình tiêm phòng dại cho vật nuôi, xử trí đúng sau phơi nhiễm, đặc biệt là tiêm vắc xin dự phòng sau phơi nhiễm, nâng cao nhận thức cộng đồng, sẽ giúp giảm mạnh số ca tử vong.

– Sự phối hợp giữa ngành y tế, thú y và chính quyền địa phương, theo mô hình “Một sức khỏe” là giải pháp bền vững nhằm hướng tới mục tiêu “Không còn ca tử vong do bệnh dại vào năm 2030” [2].

– Hiện nay tai Trung tâm dịch vụ y tế Viên Pasteur Nha Trang có tiêm huyết thanh kháng dại và vắc xin dại trước và sau phơi nhiễm như sau:

– Huyết thanh kháng dại Ivacgrig của Viện vắc xin và sinh phẩm y tế tiêm cho trẻ em và người lớn, dùng cùng 1 liều là 40 IU/kg cân nặng. Huyết thanh kháng dại được sử dụng phối hợp với vắc xin dại để dự phòng bệnh dại trong những trường hợp do động vật nghi dại gây ra như: Cắn hoặc cào làm rách da ở vùng gần thần kinh trung ương như: đầu, mặt, cổ, lưng, ngực hay vùng nhiều đầu dây thần kinh như: đầu ngón tay, ngón chân và bộ phận sinh dục. Bị nước bọt súc vật nghi dại dính vào niêm mạc (như mắt, miệng, niêm mạc, bộ phận sinh dục) và vùng da bị tổn thương. Bị cắn nhiều vết thương sâu trên cơ thể.

– Vắc xin dại Verorab của Pháp, Speeda của Trung Quốc với lịch tiêm như sau:

+ Tiêm trước phơi nhiễm ở những người chưa tiêm dự phòng vắc xin dại. Tiêm bắp với liều 0,5 ml vào các ngày 0, ngày 7 và ngày 21 hay ngày 28, tiêm nhắc lại sau 1 năm và các mũi tiếp theo 5 năm.

+ Tiêm sau phơi nhiễm ở những người chưa tiêm dự phòng dại, tiêm bắp liều 0,5 ml vào các ngày 0, ngày 3, ngày 7, ngày 14 và ngày 28, tiêm nhắc lại sau 1 năm và các mũi tiếp theo 5 năm.

+ Đối với những người đã tiêm vắc xin dại trước phơi nhiễm dưới 5 năm thì tiêm nhắc 2 liều vào ngày 0 và ngày 3. Những người tiêm vắc xin dại trước phơi nhiễm trên 5 năm hoặc tiêm không đầy đủ liều hay không chắc chắn tiêm đủ liều thì xem như không tiêm đầy đủ thì phải tiêm ngừa lại như sau phơi nhiễm dại.

Tài liệu tham khảo

1.       https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/rabies

2.       https://journals.plos.org/plosntds/articleid=10.1371/journal.pntd.0003709

3.       https://journals.plos.org/plosntds/articleid=10.1371/journal.pntd.0003709

4.       https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3178116

5.       https://vncdc.gov.vn/benh-dai-nd12245.html.

6.       https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/tinh-hinh-benh-truyen-nhiem-nam-2023.

7.       https://www.oie.int/app/uploads/2022/07/rabies-guidelines.pdf

8.       https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/-a-co-58-ca-tu-vong-vi-benh-dai-can-biet-6-khuyen-cao-phong-chong-benh-nay-cua-bo-y-te?inheritRedirect=false&utm_source=chatgpt.com


Tag:
TẠP CHÍ YHDP
QUAN HỆ HỢP TÁC
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
VIDEO CLIP
BACK TO TOP