Chuyển từ “chữa bệnh” sang “phòng bệnh”: Nền tảng cho hệ thống y tế bền vững

VOV.VN – Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của ngành y tế Việt Nam khi hệ thống chính sách được hoàn thiện theo hướng chuyển từ “chữa bệnh” sang “phòng bệnh”. Trên nền tảng đó, giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện, tháo gỡ các điểm nghẽn và hướng tới mục tiêu người dân sống lâu hơn, khỏe hơn.

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng là văn kiện mang tầm chiến lược, thể hiện tầm nhìn dài hạn và khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc vào năm 2045.

Trong đó, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân được xác định là một trụ cột quan trọng của phát triển bền vững, giữ vai trò trung tâm trong tiến bộ xã hội. Đảng kiên định mục tiêu xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hiện đại, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn.

Dự thảo khẳng định, những năm qua, hệ thống y tế đã có bước phát triển tích cực, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả, nhiều kỹ thuật y học tiên tiến được làm chủ. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025; tuổi thọ trung bình của người dân đạt 74,8 năm, số năm sống khỏe khoảng 67 năm.

Những năm qua, hệ thống y tế đã có bước phát triển tích cực, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên

Từ nền tảng thể chế của năm 2025, bước sang năm 2026 – năm diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XVI và là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030, ngành y tế đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện. Trong giai đoạn 2026-2030, mục tiêu được xác định là xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, lấy y tế cơ sở và y tế dự phòng làm nền tảng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân. Đến năm 2030, ngành y tế phấn đấu nâng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam lên khoảng 75,5 tuổi, kiểm soát tốt các bệnh không lây nhiễm và bảo đảm an ninh y tế trong mọi tình huống.

Từ những mục tiêu đó, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hiện thực hóa một hệ thống y tế vừa công bằng, chất lượng, vừa bền vững trong bối cảnh mới?

Khi “lá chắn tài chính” còn khoảng trống và y tế cơ sở chưa đủ mạnh

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, thách thức lớn nhất của hệ thống y tế Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở chuyên môn hay cơ sở vật chất, mà là bài toán bảo đảm tính bền vững tài chính trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng.

Dân số đang già hóa nhanh, trong khi các bệnh mạn tính tăng mạnh, kéo theo chi phí điều trị ngày càng cao và kéo dài. “Hệ thống y tế vừa phải bảo đảm đủ nguồn lực cho điều trị, vừa phải bảo vệ người dân để họ không rơi vào cảnh nghèo hóa vì chi phí y tế khi mắc bệnh nặng hoặc bệnh dài ngày”, bác sĩ Hoàng nhấn mạnh.

Mặc dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã đạt trên 93-94% dân số, mức chi tiền túi của các hộ gia đình cho y tế vẫn còn cao, đặc biệt là chi phí thuốc và các khoản ngoài danh mục chi trả. Thực tế này cho thấy, “lá chắn tài chính” của bảo hiểm y tế vẫn tồn tại những khoảng trống, nhất là với người nghèo, cận nghèo, người cao tuổi sống đơn thân và người dân vùng sâu, vùng xa.

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên là một trong những vấn đề cần được giải quyết để đem lại sự hài lòng cho người bệnh

Bên cạnh áp lực tài chính, hệ thống y tế còn đứng trước bài toán dung hòa giữa tự chủ bệnh viện và công bằng trong tiếp cận dịch vụ. Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, khi các cơ sở y tế phải tự chủ một phần chi phí hoạt động, nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ, rất dễ xuất hiện xu hướng ưu tiên các dịch vụ mang lại doanh thu cao. Trong khi đó, y tế dự phòng, chăm sóc ban đầu và các dịch vụ y tế cơ bản – vốn mang lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng, lại chưa được đầu tư tương xứng.

“Khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng miền cũng là vấn đề đáng lo ngại. Cùng một bệnh, hành trình khám chữa của người dân ở các đô thị lớn rất khác so với người dân ở vùng cao, vùng sâu. Ở đô thị, người bệnh có thể dễ dàng tiếp cận bệnh viện tuyến cuối, trong khi ở miền núi, nhiều người phải đi cả ngày đường, tốn kém chi phí đi lại, ăn ở, thậm chí phải bán tài sản mới đủ tiền điều trị”, bác sĩ Hoàng phân tích.

Ông dẫn chứng trường hợp một bệnh nhân ở Hoàng Su Phì mắc bệnh tim bẩm sinh, đã có chỉ định phẫu thuật từ sớm nhưng do điều kiện kinh tế và đi lại hạn chế nên chỉ điều trị cầm chừng tại tuyến huyện. Khi lên được tuyến trên, bệnh đã nặng hơn, ca mổ phức tạp hơn, chi phí cao hơn và nguy cơ biến chứng cũng tăng lên. Từ thực tế này, bác sĩ Hoàng cho rằng, khoảng cách tiếp cận không chỉ nằm ở địa lý, mà còn ở khả năng chi trả và nhận thức về bệnh tật.

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng cũng kỳ vọng, hệ thống y tế Việt Nam sẽ chuyển sang mô hình quản lý sức khỏe chủ động, trong đó mỗi người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử và được theo dõi nguy cơ bệnh tật từ sớm

Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên chỉ là “phần nổi của một vấn đề rất sâu”. Về nguyên tắc, hệ thống y tế cần vận hành theo mô hình kim tự tháp, trong đó tuyến xã và huyện xử lý phần lớn các bệnh thông thường, còn tuyến tỉnh và trung ương tập trung cho các ca nặng, ca khó. Tuy nhiên, thực tế lại diễn ra theo chiều ngược lại.

“Nhiều bệnh viện lớn thường xuyên quá tải, bệnh nhân từ nhiều tỉnh đổ về, kể cả với những bệnh lý hoàn toàn có thể quản lý tốt ở tuyến cơ sở như tăng huyết áp hay đái tháo đường. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân thiếu niềm tin vào tuyến dưới, cùng với cơ chế thanh toán theo phí dịch vụ và tự chủ tài chính khiến tuyến trên có xu hướng giữ bệnh nhân lâu hơn”, bác sĩ Hoàng nhận định

Bàn về yếu tố quyết định chất lượng khám chữa bệnh, bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng cho rằng, nhân lực, cơ sở vật chất và cơ chế chính sách là ba trụ cột chính, trong đó cơ chế chính sách đóng vai trò then chốt. Có nơi trạm y tế được đầu tư khang trang nhưng thiếu bác sĩ. Ngược lại, có nơi bác sĩ giỏi nhưng vướng cơ chế mua sắm, đấu thầu, dẫn đến thiếu thuốc và vật tư.

Theo bác sĩ Hoàng, chuyển đổi số đang mở ra cơ hội quan trọng để thu hẹp khoảng cách tiếp cận y tế. Nhiều ca bệnh ở vùng sâu, vùng xa hiện nay có thể được hội chẩn từ xa, giúp giữ bệnh nhân điều trị tại địa phương. Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ thực sự hiệu quả khi có hạ tầng đồng bộ, chuẩn hóa dữ liệu và các hệ thống có thể kết nối, chia sẻ thông tin.

Để bảo vệ nhóm yếu thế, bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng nhấn mạnh vai trò then chốt của bảo hiểm y tế. Những người dễ bị tổn thương nhất cần được hưởng mức chi trả cao hơn, thậm chí không phải đồng chi trả. “Với người cận nghèo, chỉ 5% đồng chi trả thôi cũng có thể là gánh nặng lớn”.

Nhìn về giai đoạn 2026-2030, bác sĩ Hoàng kỳ vọng hệ thống y tế Việt Nam sẽ chuyển sang mô hình quản lý sức khỏe chủ động, trong đó mỗi người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử và được theo dõi nguy cơ bệnh tật từ sớm. Khi đó, gánh nặng cho bệnh viện tuyến trên sẽ giảm, đồng thời bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau khi ốm đau.

Kỳ vọng giai đoạn 2026-2030: người dân sống lâu hơn và sống khỏe hơn

Theo PGS.TS Trần Đắc Phu, chuyên gia y tế dự phòng (Bộ Y tế), xây dựng một hệ thống y tế công bằng, chất lượng và bền vững là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước trong tiến trình phát triển xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Riêng trong lĩnh vực y tế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết, bởi mục tiêu cao nhất là bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách bình đẳng, không phân biệt vùng miền, giàu nghèo.

Ông nhấn mạnh, công bằng y tế trước hết phải thể hiện ở việc mọi người dân đều được chăm sóc, chữa bệnh và phòng bệnh như nhau, được tiếp cận đầy đủ các thông tin, tư vấn về sức khỏe. Sức khỏe không chỉ là tài sản của mỗi cá nhân mà còn là tài sản chung của toàn dân, của cả đất nước. Từ quan điểm đó, y tế công bằng không dừng ở khái niệm, mà phải được cụ thể hóa bằng chính sách và hành động thực tiễn.

PGS.TS Trần Đắc Phu, chuyên gia y tế dự phòng (Bộ Y tế), Phó chủ tịch Hội Y học dự phòng Việt Nam

Chỉ ra những “điểm nghẽn” lớn của hệ thống y tế hiện nay, PGS.TS Trần Đắc Phu cho rằng, hạn chế căn bản nằm ở cách tiếp cận. Dù từ lâu đã xác định “phòng bệnh là chính”, song trên thực tế, hệ thống y tế vẫn thiên về giải quyết “phần ngọn” là chữa bệnh. Điều này khiến chi phí y tế gia tăng, bệnh viện quá tải và hệ thống khó đạt được tính bền vững. Muốn phát triển bền vững, bắt buộc phải quay lại gốc rễ là phòng bệnh.

Theo ông Phu, Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị ra đời trong bối cảnh đó là một bước chuyển rất quan trọng, đánh dấu sự dịch chuyển từ tư duy lấy chữa bệnh làm trọng tâm sang lấy phòng bệnh làm nền tảng, với quan điểm phòng từ sớm, từ xa và một cách toàn diện. Sự thay đổi này tiếp tục được cụ thể hóa bằng việc Quốc hội thông qua Luật Phòng bệnh, mở rộng phạm vi không chỉ với bệnh truyền nhiễm mà còn bao gồm bệnh không lây nhiễm, sức khỏe tâm thần cộng đồng, dinh dưỡng và phòng các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe. Đặc biệt, luật cũng nhấn mạnh đầu tư cho phòng bệnh như một trụ cột của hệ thống y tế.

Công bằng trong y tế, theo PGS.TS Trần Đắc Phu, còn thể hiện rõ ở việc ưu tiên các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ mang thai, người cao tuổi. Trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, vấn đề dân số không còn đơn thuần là kế hoạch hóa sinh đẻ, mà đã chuyển sang cách tiếp cận “dân số và phát triển”, gắn chặt với chăm sóc sức khỏe suốt vòng đời. Chăm sóc từ lúc còn là đứa trẻ trong bụng mẹ cho đến khi về già.

Những năm tới đây, Nhà nước đã triển khai các chương trình mục tiêu hướng vào vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ người nghèo, tăng cường khám chữa bệnh và khám sức khỏe sàng lọc định kỳ cho người dân.

“Mỗi năm, người dân được khám sức khỏe ít nhất một lần cũng là cách chúng ta từng bước tiến tới công bằng y tế. Bên cạnh đó, những vướng mắc trong mua sắm, đấu thầu vật tư y tế từng gây thiếu hụt ở một số nơi cũng đang dần được tháo gỡ”, PGS. Trần Đắc Phu nhấn mạnh.

Khi bàn về vai trò của y tế cơ sở và y tế dự phòng trong việc giảm quá tải bệnh viện và nâng cao tính bền vững của hệ thống, PGS.TS Trần Đắc Phu cho rằng, đây chính là “chìa khóa” để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 72. Phòng bệnh hiệu quả sẽ giúp người dân không mắc bệnh, không phải nhập viện, hoặc nếu mắc bệnh thì ở mức độ nhẹ, không biến chứng, không tử vong. “Muốn làm được điều đó, chỉ có y tế cơ sở và y tế dự phòng mới có thể đảm đương, vì họ là tuyến đầu, là nơi tiếp cận sớm nhất với người dân”.

Theo ông, dự phòng mang tính quần thể, tác động trên diện rộng, vừa bảo vệ sức khỏe cộng đồng, vừa giảm áp lực cho hệ thống điều trị. Đây cũng là lý do Đảng và Nhà nước thời gian qua dành sự quan tâm đặc biệt cho y tế dự phòng và y tế cơ sở.

Đánh giá về cơ chế tài chính và bảo hiểm y tế, PGS.TS Trần Đắc Phu thẳng thắn cho rằng, sự phân bổ nguồn lực vẫn chưa thật sự cân đối giữa phòng bệnh và chữa bệnh. Trước đây, bảo hiểm y tế chỉ chi trả cho khám chữa bệnh, trong khi phòng bệnh chưa được coi là đối tượng chi trả. Luật Phòng bệnh vừa được thông qua đã tạo ra bước ngoặt khi cho phép sử dụng quỹ bảo hiểm y tế cho các hoạt động phòng bệnh như khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc bệnh không lây nhiễm.

Dù Việt Nam có tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế cao, nhưng mức đóng còn thấp, dẫn tới khó khăn trong chi trả và mở rộng quyền lợi. Bên cạnh đó, giai đoạn 2020-2025, việc gián đoạn các chương trình mục tiêu quốc gia cũng ảnh hưởng tới nguồn lực cho y tế dự phòng. Việc khôi phục các chương trình này trong thời gian gần đây được xem là bước đi cần thiết để củng cố y tế cơ sở và dự phòng.

Theo quan điểm của ông, điều trị có thể xã hội hóa mạnh mẽ hơn, với sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư nhân, trong khi phòng bệnh phải là lĩnh vực Nhà nước giữ vai trò đầu tư chủ đạo. “Bảo hiểm y tế vẫn là trụ cột quan trọng, vừa bảo đảm an sinh, vừa tạo nguồn lực cho hệ thống khám chữa bệnh”.

Về nhân lực y tế, PGS.TS Trần Đắc Phu cho rằng, yếu tố then chốt để thu hút và giữ chân đội ngũ chất lượng cao là môi trường làm việc, vị thế nghề nghiệp và thu nhập. Ông lưu ý, không nên coi y tế cơ sở hay tuyến dưới là kém quan trọng, mà phải xác lập đúng vai trò, giao nhiệm vụ xứng đáng và tạo uy tín cho đội ngũ này.

Những đổi mới gần đây, như việc trạm y tế xã được tổ chức thành đơn vị sự nghiệp có thu, có giám đốc trạm, được xem là bước đột phá so với trước đây, khi mà nhân viên trạm chỉ là “cánh tay nối dài” của trung tâm y tế huyện. Cùng với đó là các chính sách tăng lương, phụ cấp ưu đãi cho y tế dự phòng theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ đạo về đột phá thể chế, pháp lý của Tổng Bí thư Tô Lâm. “Đây chính là cơ sở pháp lý để đầu tư lâu dài cho y tế dự phòng và y tế cơ sở”, ông nói.

Nhìn về giai đoạn 2026-2030, PGS.TS Trần Đắc Phu bày tỏ kỳ vọng vào việc các nghị quyết của Bộ Chính trị, các đạo luật mới, đặc biệt là Luật Phòng bệnh, sẽ được triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là người dân sống lâu hơn, mà quan trọng hơn là sống khỏe. “Sống lâu nhưng nhiều năm cuối đời bệnh tật thì không thể coi là hạnh phúc, cũng không bảo đảm an sinh xã hội”.

Ông cũng kỳ vọng các chính sách chăm sóc người cao tuổi, từ mô hình cư trú, sinh hoạt đến chăm sóc sức khỏe, sẽ sớm đi vào cuộc sống với sự đầu tư thực chất.

“Chính sách đã có, vấn đề là thực thi ra sao. Nếu làm quyết liệt, đồng bộ, tôi tin hệ thống y tế Việt Nam sẽ có những thay đổi mang tính ngoạn mục”, PGS.TS Trần Đắc Phu bày tỏ.

Nguồn tin: PGS.TS Trần Đắc Phu – Phó Chủ tịch Hội Y học dự phòng Việt Nam

Trích nguồn: Báo VOV


Tag:
TẠP CHÍ YHDP
QUAN HỆ HỢP TÁC
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
VIDEO CLIP
BACK TO TOP