Khuyến cáo về thực hành chủng ngừa não mô cầu nhóm B tại Việt Nam

TỔNG QUAN

Bệnh não mô cầu xâm lấn (IMD) do vi khuẩn Nesseria meningitidis gây ra gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới[1]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính có 250.000 ca tử vong viêm màng não năm 2019, với 1/5 để lại di chứng nghiêm trọng lâu dài[2]. Bệnh lây qua đường hô hấp và thường biểu hiện ở các thể lâm sàng chính là viêm màng não, nhiễm trùng huyết hoặc cả hai..[3,4]. Đặc điểm của bệnh não mô cầu là khởi phát đột ngột, các triệu chứng ban đầu thường không đặc hiệu và rất dễ lầm với các triệu chứng của các bệnh truyền nhiễm khác, diễn tiến tử vong nhanh có thể trong 24h đầu [5], và những bệnh nhân sống sót sau điều trị có thể bị các di chứng tàn khốc kéo dài. Các di chứng ở những người sống sót sau bệnh não mô cầu xâm lấn (IMD) như: cắt cụt chi, sẹo da, mất thính lực và khuyết tật thần kinh,… . Các đối tượng nguy cơ cao mắc não mô cầu bao gồm trẻ em dưới 5 tuổi, thanh thiếu niên và các đối tượng suy giảm miễn dịch. Theo phương pháp huyết thanh học dựa trên thành phần vỏ polysaccharide của vi khuẩn não mô cầu, một danh pháp quốc tế đã được thiết lập để phân loại Nesseria thành 13 nhóm huyết thanh (serogroup) riêng biệt, trong đó 6 nhóm (A, B, C, W, X, Y) là các nhóm huyết thanh phổ biến trong các trường hợp gây bệnh IMD trên thế giới [3,6].
Tại Việt Nam, năm 2018, tỷ lệ mắc bệnh là 0,02 / 100.000 dân [7]. Tỷ lệ mắc bệnh trong các trường hợp giám sát dao động khoảng 1,9 / 100.000 trong số tân binh [8]. Tại Hà Nội, tỷ lệ mắc bệnh được báo cáo ở trẻ em dưới 5 tuổi dao động từ 2,6 đến 7,4 / 100.000 dân [9]. trong đó giai đoạn trẻ dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc não mô cầu là 15,5 / 100.000 [9], giai đoạn từ 6 đến 11 tháng là 29,1 / 100.000 [9], và do đó cũng đặt ra nhu cầu cần chủng ngừa não mô cầu trước giai đoạn đỉnh này
Não mô cầu nhóm huyết thanh B (MenB) là nhóm huyết thanh chiếm ưu thế (94%) trong số 109 chủng phân lập từ miền Nam Việt Nam đươc thu thập từ năm 1980 đến 2019 [9–11]. Não mô cầu nhóm huyết thanh C (MenC) tìm thấy trong 6% trong các chủng phân lập [9–11]. Tương tự, MenB chiếm ưu thế trong số các nhóm huyết thanh ở những người mang mầm bệnh ở mức 56%, tiếp theo là MenC ở mức 21%, và các nhóm còn lại không thể phân loại được [11]. Một nghiên cứu giám sát tiến cứu dựa trên dân số thực hiện tại tất cả các bệnh viện quân đội Việt Nam từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 6 năm 2021 đã xác định 69 trường hợp IMD (bệnh não mô cầu xâm lấn), trong đó có 91% là MenB [8]. Do đó, có thể thấy nhóm huyết thanh B đang là nhóm huyết thanh phổ biến hiện nay tại Việt Nam [9].

KHUYẾN CÁO CHỦNG NGỪA NÃO MÔ CẦU NHÓM B


• Do tính chất nguy hiểm, nguy cơ tử vong cao và di chứng lớn ảnh hưởng suốt đời của não mô cầu nhóm B trên từng ca bệnh, khuyến cáo cần chủng ngừa não mô cầu nhóm B sớm nhất có thể từ 2 tháng tuổi [2–6,9–17].
• Dựa trên dữ liệu sinh miễn dịch tương tự nhau của hai phác đồ 2+1 và 3+1 ở giai đoạn từ 2 tháng đến 6 tháng tuổi, tại Việt Nam có thể áp dụng phác đồ tiêm 2 + 1 cho trẻ ở độ tuổi này. Ngoài ra ,phác đồ 2+1 có chi phí thấp hơn và dễ triển khai trên thực hành hơn. Phác đồ 3+1 có thể được cân nhắc sử dụng khi có dịch bùng phát [18,19].
• Tất cả các đối tượng đều có nguy cơ mắc não mô cầu nhóm B, trong đó có những đối tượng có nguy cơ mắc não mô cầu cao hơn, bao gồm [3,12,13,20]:
+ Trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là dưới 6 tháng
+ Thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi và sống ở các khu tập thể như:
o Sinh viên ở ký túc xá.
o Người sống ở khu dân cư đông đúc.
o Người trong doanh trại quân đội
o Người thường xuyên hút thuốc lá, đến các quán bar hay vũ trường.
+ Người bị suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh lý mạn tính.
+ Người có tiếp xúc gần với người bị viêm màng não mô cầu hoặc sống trong vùng có dịch não mô cầu.
+ Người đi du lịch đến vùng có dịch não mô cầu nhóm B
• Do khác nhau về thành phần kháng nguyên trong vắc xin, những người đã hoàn thành lịch tiêm ngừa não mô cầu nhóm B bằng công nghệ OMV có thể tiêm vắc xin 4CMenB để tăng cường khả năng phòng ngừa não mô cầu nhóm B [21–25].
• Không cần sử dụng Paracetamol dự phòng trước khi tiêm vắc xin não mô cầu 4CMenB. Dùng Paracetamol khi nhiệt độ ≥ 38,50C [26].
• Vắc xin não mô cầu 4CMenB có thể được cân nhắc tiêm đồng thời với các vắc xin khác [27].


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Acevedo R, Bai X, Borrow R, Caugant DA, Carlos J, Ceyhan M, et al. The Global Meningococcal Initiative meeting on prevention of meningococcal disease worldwide: Epidemiology, surveillance, hypervirulent strains, antibiotic resistance and high-risk populations. Expert Rev Vaccines. 2019 Jan;18(1):15–30.
  2. Defeating Meningitis by 2030 [Internet]. [cited 2023 Oct 12]. Available from: https://www.who.int/initiatives/defeating-meningitis-by-2030
  3. Rosenstein NE, Perkins BA, Stephens DS, Popovic T, Hughes JM. Meningococcal Disease. N Engl J Med. 2001 May 3;344(18):1378–88.
  4. Pathan N, Faust S, Levin M. Pathophysiology of meningococcal meningitis and septicaemia. Arch Dis Child. 2003 Jul;88(7):601–7.
  5. Watson PS, Turner DPJ. Clinical experience with the meningococcal B vaccine, Bexsero®: Prospects for reducing the burden of meningococcal serogroup B disease. Vaccine. 2016 Feb 10;34(7):875–80.
  6. Harrison OB, Claus H, Jiang Y, Bennett JS, Bratcher HB, Jolley KA, et al. Description and Nomenclature of Neisseria meningitidis Capsule Locus. Emerg Infect Dis. 2013 Apr;19(4):566–73.
  7. moh [Internet]. [cited 2023 Oct 18]. Available from: https://moh.gov.vn/documents/176127/0/NGTK+2018+final_2018.pdf/29980c9e-d21d-41dc-889a-fb0e005c2ce9
  8. Van CP, Nguyen TT, Bui ST, Nguyen TV, Tran HTT, Pham DT, et al. Invasive Meningococcal Disease Remains a Health Threat in Vietnam People’s Army. Infect Drug Resist. 2021;14:5261–9.
  9. The Nguyen PN, Hung NT, Mathur G, Pinto T de JP, Minh NHL. Review of the epidemiology, diagnosis and management of invasive meningococcal disease in Vietnam. Hum Vaccin Immunother. 19(1):2172922.
  10. Thisyakorn U, Carlos J, Chotpitayasunondh T, Dien TM, Gonzales MLAM, Huong NTL, et al. Invasive meningococcal disease in Malaysia, Philippines, Thailand, and Vietnam: An Asia-Pacific expert group perspective on current epidemiology and vaccination policies. Hum Vaccin Immunother. 18(6):2110759.
  11. Phan T, Ho N, Vo D, Pham H, Ho T, Nguyen H, et al. Characterization of Neisseria meningitidis in Vietnam from 1980s–2019. International Journal of Infectious Diseases. 2020 Dec 1;101:147.
  12. EPIDEMIOLOGY AND PREVENTION OF VACCINE-PREVENTABLE DISEASES [Internet]. [cited 2023 Oct 29]. Available from: https://www.cdc.gov/vaccines/pubs/pinkbook/downloads/table-of-contents.pdf
  13. Stephens DS, Greenwood B, Brandtzaeg P. Epidemic meningitis, meningococcaemia, and Neisseria meningitidis. The Lancet. 2007 Jun 30;369(9580):2196–210.
  14. Racloz VN, Luiz SJ. The elusive meningococcal meningitis serogroup: a systematic review of serogroup B epidemiology. BMC Infectious Diseases. 2010 Jun 17;10(1):175.
  15. Australian Meningococcal Surveillance Programme Annual Report, 2020 [Internet]. [cited 2023 Oct 28]. Available from: https://www1.health.gov.au/internet/main/publishing.nsf/Content/5C71FABF639650F6CA2586520081286B/$File/australian_meningococcal_surveillance_programme_annual_report_2020.pdf
  16. The epidemiology of meningococcal disease in New Zealand. [Internet]. Tableau Software. [cited 2023 Oct 28]. Available from: https://public.tableau.com/views/Meningococcal/Dashboard?:embed=y&:showVizHome=no&:host_url=https%3A%2F%2Fpublic.tableau.com%2F&:embed_code_version=3&:tabs=no&:toolbar=yes&:animate_transition=yes&:display_static_image=no&:display_spinner=yes&:display_overlay=yes&:display_count=yes&:language=en-GB&:loadOrderID=0
  17. Van CP, Nguyen TT, Bui ST, Nguyen TV, Tran HTT, Pham DT, et al. Invasive Meningococcal Disease Remains a Health Threat in Vietnam People’s Army. Infect Drug Resist. 2021;14:5261–9.
  18. Isitt C, Cosgrove CA, Ramsay ME, Ladhani SN. Success of 4CMenB in preventing meningococcal disease: evidence from real-world experience. Arch Dis Child. 2020 Aug;105(8):784–90.
  19. Martinón-Torres F, Safadi MAP, Martinez AC, Marquez PI, Torres JCT, Weckx LY, et al. Reduced schedules of 4CMenB vaccine in infants and catch-up series in children: Immunogenicity and safety results from a randomised open-label phase 3b trial. Vaccine. 2017 Jun 16;35(28):3548–57.
  20. Wilder-Smith A. Meningococcal vaccine in travelers. Current Opinion in Infectious Diseases. 2007 Oct;20(5):454.
  21. Wang NY, Pollard AJ. The next chapter for group B meningococcal vaccines. Critical Reviews in Microbiology. 2018 Jan 2;44(1):95–111.
  22. Rappuoli R. Reverse vaccinology. Current Opinion in Microbiology. 2000 Oct 1;3(5):445–50.
  23. Donnelly J, Medini D, Boccadifuoco G, Biolchi A, Ward J, Frasch C, et al. Qualitative and quantitative assessment of meningococcal antigens to evaluate the potential strain coverage of protein-based vaccines. Proc Natl Acad Sci U S A. 2010 Nov 9;107(45):19490–5.
  24. Muzzi A, Brozzi A, Serino L, Bodini M, Abad R, Caugant D, et al. Genetic Meningococcal Antigen Typing System (gMATS): A genotyping tool that predicts 4CMenB strain coverage worldwide. Vaccine. 2019 Feb 8;37(7):991–1000.
  25. Advice for immunisation providers regarding the use of Bexsero®– a recombinant multicomponent meningococcal B vaccine (4CMenB) [Internet]. [cited 2023 Oct 29]. Available from: https://www.health.gov.au/sites/default/files/atagi-advice-bexsero.pdf
  26. Sohn WY, Tahrat H, Novy P, Bekkat-Berkani R. Real-world implementation of 4-component meningococcal serogroup B vaccine (4CMenB): implications for clinical practices. Expert Rev Vaccines. 2022 Mar;21(3):325–35.
  27. Abitbol V, Sohn WY, Horn M, Safadi MAP. Safety and immunogenicity of co-administered meningococcal serogroup B (4CMenB) vaccine: A literature review. Human Vaccines & Immunotherapeutics. 2023 Aug 1;19(2):2245705.

Tag:
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
TẠP CHÍ YHDP
QUAN HỆ HỢP TÁC
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
TVWHO
VIDEO CLIP
BACK TO TOP